Phật giáo Việt Nam cùng với vận mệnh đất nước đã trải qua biết bao hưng suy thăng trầm, biến thiên của thời cuộc. Lịch sử dân tộc thời nào cũng có những vị anh hùng xả thân cứu nước, Phật giáo giai đoạn nào cũng có những bậc danh tăng dựng đạo giúp đời. 

Phật giáo thời Lý – Trần với tinh thần cư trần lạc đạo, nhập thế hành đạo đã gắn liền với tên tuổi của những vị thiền sư nổi tiếng như Khuông Việt Đại sư, Vạn Hạnh Thiền sư… là những người có vai trò quan trọng trong việc tham mưu xây dựng quốc gia Đại Cồ Việt. Đặc biệt từ khi nhà Lý mới dựng nghiệp, Thiền sư Vạn Hạnh là người đã có những đóng góp quan trọng trong thời kỳ đầu kỷ nguyên độc lập, tự chủ của dân tộc. 

1. Thời cuộc và hành trạng của Thiền sư Vạn Hạnh

Thiền sư Vạn Hạnh (chữ Hán: 萬行) (938-1018) là người làng Cổ Pháp, phủ Thiên Đức (nay là làng Đại Đình, xã Tân Hồng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh).

Năm 21 tuổi, ngài xuất gia ở chùa Lục Tổ cùng với Sư Định Tuệ theo Thiền Ông đạo giả. Từ tuổi tráng niên cho đến tuổi trung niên, ngài đã được Thiền Ông trao truyền cho những yếu chỉ của Thiền tông và chính trong thời gian này, ngài chuyên tâm trau dồi kiến thức, ngày đêm khổ luyện học tập kinh kệ, tham khảo sử sách.

Năm 979, Thiền Ông viên tịch, Sư Vạn Hạnh đã được thầy truyền cho tâm ấn trụ trì, chuyên tâm tập phép Tổng trì tam ma địa. Sau hơn 20 năm thụ giáo với Thiền Ông, Vạn Hạnh Thiền sư đã thu được những điều huyền vi của giáo lý. Mỗi câu nói đều lạ thường, người đời đều cho đó là những câu sấm. Sư Vạn Hạnh là thế hệ thứ 12 của Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi.
Niên hiệu Thuận Thiên thứ chín (1018), Sư không bệnh mà gọi đồ chúng đến nói bài kệ:

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô

Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô,

Nhậm vận thịnh suy vô bố úy

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô

Nhà thơ Ngô Tất Tố dịch:

Thân như bóng chớp có rồi không,

Cây cối xuân tươi, thu não nùng,

Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi,

Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông

Nói xong, Sư lại bảo chúng: “Các ngươi cần trụ chỗ nào? Ta chẳng lấy chỗ trụ mà trụ, chẳng y không trụ mà trụ” rồi thị tịch. Vua Lý Thái Tổ và tất cả triều thần nhà Lý đến làm lễ Trà tỳ, thỉnh Xá lợi của ngài về thờ tại chùa Tiêu Sơn (Bắc Ninh).
Ngài là một trong những bậc anh tài trí thức Phật giáo làm cố vấn cho vua Lê Đại Hành, đồng thời là người thầy của vua Lý Công Uẩn, đã hướng dẫn cho vị vua này một thời gian dài trước và sau khi triều Lý được thành lập. Thiền sư được xem là người có tài tiên đoán, đã vận dụng khả năng và uy tín của cá nhân để hộ trì cho Lý Công Uẩn lên ngôi, mở ra triều Lý – triều đại có lịch sử trị vì anh minh và tài tình trong lịch sử dân tộc.

Tượng Thiền sư Vạn Hạnh tại chùa Tiêu (Bắc Ninh)

2. Tư tưởng, triết lý – nội lực tâm linh của Thiền sư Vạn Hạnh

Thiền sư Vạn Hạnh thấm nhuần cả ba luồng tư tưởng của Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo. Ngài đi vào đời bằng Nho, ở lại với đời bằng Lão và đã vươn lên tất cả bằng Phật Giáo. Ở ngài là sự kết tinh tổng hòa nhuần nhuyễn tam giáo để hành xử thích ứng với đời. Ngài tu theo pháp “Tổng trì tam muội”, chuyên nghiên cứu sâu về tư tưởng Bồ Tát Long Thụ với tinh thần của “Trung Luận”. Pháp môn “Tổng trì tam ma địa” đỉnh cao đạt đến tam muội (chính định), đi đến đắc đạo.
Thiền sư Vạn Hạnh thừa kế dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, dòng thiền này chủ yếu lấy tinh thần kinh “Tượng đầu tinh xá” làm yếu chỉ nghiên cứu và tu tập theo tinh thần “trụ nơi vô trụ”. Tư tưởng này giống tinh thần của Ngài Lục Tổ Huệ Năng trong kinh Pháp Bảo Đàn, với tinh thần “vô niệm làm tâm, vô tướng làm thể, vô trụ làm gốc”.

Không những vậy, Thiền sư còn áp dụng triết lý “Duyên sinh vô ngã” của đạo Phật, tùy thời, tùy căn cơ, trình độ của chúng sinh mà có những phương thức, kỹ năng trao truyền giáo pháp thích ứng. Như lời vua Lý Nhân Tông đã từng nói với Thiền sư Mãn Giác rằng: “Bậc chí nhân hiện thân ở cõi đời tất phải làm việc để cứu chúng sinh, không hạnh nào là không cần có đủ, không việc gì không phải chăm lo, chẳng những đắc lực về thiền định và trí tuệ mà cũng có công giúp ích cho nhà nước”.

Khi nước nhà giành được độc lập, ý thức tự chủ của dân tộc càng được phát huy cao độ thì Phật giáo càng có điều kiện phát triển và ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng. Đất nước được phục hưng, việc nước cần chấn chỉnh, triều chính cần ổn định, việc bang giao cần người giúp đỡ, ai sẽ là người đảm nhận trọng trách này nếu không phải là những trí thức, mà những trí thức hồi ấy phần lớn là tăng lữ. Do đó, những vị thiền sư thời này không chỉ bó hẹp hoạt động của mình trong khuôn viên nhà chùa, lo truyền đạo, chăm sóc cho đời sống tinh thần của người dân mà còn đóng góp nhiều công sức trong công cuộc kiến thiết đất nước. Thiền sư Vạn Hạnh là một trong các vị Thiền sư tiêu biểu lúc bấy giờ.

Đối với Thiền sư Vạn Hạnh, tu không phải là chỉ nhìn vào vách để an tâm mình, cũng chẳng phải rút vào rừng núi xa nhân gian. Cái “chúng sinh” cụ thể phải “cứu độ” chính là quần chúng dân tộc đang đói rách vì loạn lạc, đang ngày đêm sống trong sợ hãi vì bị bắt lính, cướp bóc..
Trong sách “Vạn Hạnh, kẻ đi qua cầu lịch sử”*, Hòa thượng Thích Mãn Giác (1929-2006) đã viết: “Con đường Vạn Hạnh đi không phải là con đường lên núi làm một nhà tu cô đơn khổ hạnh, cũng không phải con đường đưa Sư đến chỗ ngồi nhìn vách quay lưng lại cuộc đời mà tu. Con đường Sư đi là con đường hành động với con tim vô tư, vô cầu, với quyết ý dốc cả tâm can phò trợ những người khoan dung được lòng dân có hoài bão làm cho dân cho nước thịnh trị”.

* Trang 28, bản in năm 1997, California, Trung tâm Văn hóa Phật giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ xuất bản

Nguồn: Hòa thượng Tiến sĩ Thích Gia Quang, Phó Chủ tịch HĐTS GHPGVN
Tham luận tại Tọa đàm Khoa học “Thiền sư Vạn Hạnh với thời kỳ đầu kỷ nguyên độc lập tự chủ của Việt Nam”

Liên hệ với chúng tôi

Lời nhắn của bạn

0 Comments

Leave a reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

*

Log in with your credentials

or    

Forgot your details?

Create Account