Thiền Sư Không Lộ

Thiền Sư Không Lộ

Ngày đăng: 26/05/2023 10:21 AM

    Thiền sư Không Lộ, đời thứ 9 Thiền phái Vô Ngôn Thông. Sư họ Dương, không biết tên thật là gì, quê ở làng Hải Thanh. Gia đình thiền sư vốn làm nghề chài lưới, đến đời sư nặng khối tình nhân thế, ông bỏ đi theo đạo Phật. Khoảng niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh (1059-1065), từ một ngư phủ, ông theo Thiền sư Lôi Hà Trạch xuất gia, cùng làm bạn với các Thiền sư Giác Hải và Từ Đạo Hạnh.

    Cũng theo truyền thuyết còn lưu lại trong dân gian, con đường tu hành của Thiền sư cũng gian nan lắm. Phong cách sư thoát tục, ăn mặc đơn giản, không vướng mắc vật chất thường tình. Sư chỉ tinh chuyên thiền định, ăn cây mặc cỏ, quên cả thân mình, tập trung cho việc thiền định. Trải bao năm tu hành, ông đã đắc đạo. Dân gian thành kính, tôn sùng những vị đại sư thời ấy. Thiền sư là biểu tượng sự chứng ngộ, chân lý giải thoát, đỉnh cao của giác ngộ. Chứng ngộ thiền là sự chứng ngộ nội tâm mình, người tu thiền phải tự tin ở chính mình, tự đốt đuốc soi lối tìm đường mà đi và kiên định con đường mình đã chọn để tìm ra chân lý, đạt đến giác ngộ. Từ chứng ngộ được Phật tính mà người tu thiền phải vượt qua để đạt đến ngã không, nhân không, vật không. Khi đã đến đỉnh cao của sự chứng ngộ thì cái bản thể nhỏ bé của mình đã hoà đồng vào vạn vật, trở thành một tế bào của vũ trụ...

    Sử sách còn ghi lại, ngày 3 tháng 6 năm Hộ Trường Khánh thứ 10 (1119) đời Lý Nhân Tông, Thiền sư Không Lộ viên tịch. Theo các sư tăng thời nay, khi ấy môn đồ của Thiền sư đã làm lễ hoả táng, thu xá lợi Phật, xây tháp thờ ở trước chùa Nghiêm Quang là nơi sư trụ trì. Ngôi chùa được sư Dương Không Lộ xây dựng năm 1061 và tu hành ở đây. Nay ngôi chùa được đổi tên gọi là Nghiêm Quang Tự, tức Chùa Nghiêm Quang hay là Chùa Keo cổ ở ấp Giao Thủy – Nam Định. Theo thời gian, nước sông Hồng xói mòn dần nền chùa và đến năm 1611, một trận lũ lớn đã cuốn trôi cả làng mạc lẫn ngôi chùa. Dân làng Keo phải bỏ quê cha đất tổ ra đi: Một nửa chuyển về Đông nam hữu ngạn sông Hồng, về sau dựng nên chùa Keo - Hành Thiện (nay thuộc tỉnh Nam Định); một nửa vượt sông đến định cư ở phía Đông bắc tả ngạn sông Hồng, về sau dựng nên chùa Keo - Thái Bình.

    Đứng soi mình xuống hồ nước phẳng lặng giữa một không gian thoáng đãng, chùa Keo không chỉ lưu giữ nhiều di vật quý giá mà còn chứa đựng những điều huyền bí gắn liền với cuộc đời Thiền sư Không Lộ.

    Nơi đây, vẫn còn những đồ thờ quý giá tương truyền là đồ dùng của Thiền sư như một bộ tràng hạt bằng ngà, một bình vôi to và ba vỏ ốc lóng lánh như dát vàng mà người ta kể lại rằng chính do Không Lộ nhặt được thuở còn làm nghề đánh cá và giữ làm chén uống nước trong những năm tháng tu hành.

    Ngàn năm đã trôi qua, dấu tích của Thiền sư Không Lộ vẫn còn lưu lại tại ngôi chùa khi xưa sư trụ trì. Nhiều vị cao tăng ngày nay khẳng định, Thiền sư đã để lại cho hậu thế một tấm lòng bao dung vị tha, dùng ngôn ngữ của bậc giác ngộ để chuyển hoá tâm thức chúng sinh.   

    Tác phẩm của Sư có bài kệ Ngôn Hoài và bài thơ Ngư  Nhàn.

    Kệ Ngôn Hoài:
    Trạch đắc long xà địa khả cư,
    Dã tình chung nhật lạc vô dư.
    Hữu thời trực thướng cô phong đảnh,
    Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.

    Dịch:
    Lựa nơi rồng rắn đất ưa người,
    Cả buổi tình quê những mảng vui.
    Có lúc thẳng lên đầu núi thẳm,
    Một hơi sáo miệng, lạnh bầu trời.
     (Ngô Tất Tố)

    Thơ Ngư Nhàn:
    Vạn lý thanh giang vạn lý thiên,
    Nhất thôn tang giá nhất thôn yên.
    Ngư ông thùy trước vô nhân hoán,
    Quá ngọ tỉnh lai tuyết mãn thuyền.

    Dịch:
    Muôn dặm sông dài, muôn dặm trời,
    Một làng dâu giá, một làng hơi.
    Ông chài mê ngủ, không người gọi,
    Tỉnh giấc quá trưa tuyết đầy thuyền.

    ( Nguồn: Theo sách Trùng san Thần Quang tự Phật tổ bản hành thiền uyển ngữ lục tập yếu).

     

    Chia sẻ:
    Bài viết khác:
    Zalo
    Hotline