Đức Bà Sakya Jetsun Chimey Luding Rinpoche, nữ đạo sư Phật giáo cao quý nhất và được đào tạo kỹ lưỡng nhất của phương Tây, sinh ra ở Drolma Podrang, hay Cung điện Tara của gia đinh Sakya Khon năm 1938 (năm Mậu Thổ).
Đức Bà bắt đầu thực hành Pháp từ năm tuổi. Đức Sakya Trizin được sinh ra khi Đức Bà được sáu tuổi. Theo truyền thống trong gia đình, Đức Bà đã thọ giới sa di khi Bà được bảy tuổi. Năm mười tuổi, Đức Bà nhập thất lần đầu tiên. Đức Bà đã thiền định về hình tướng của Kim Cương Thủ Bốn Tay, hay Đức Bàn được gọi là Bhutadamara, và trong một tháng đã hoàn thành một triệu lần trì tụng thần chú ngắn, HUM VAJRA PHAT, và một trăm ngàn lần trì tụng thần chú dài. Năm Đức Bà mười một tuổi, cha Đức Bà, Kunga Rinchen, cử Đức Bà đi giảng dạy lần đầu tiên. Đức Bà đã trải qua tháng thứ tư đến tháng thứ mười của Tây Tạng giữa những người du mục ở vùng đồng bằng phía bắc của Tây Tạng, ban những trao truyền và giáo lý về Phowa, hay chuyển di tâm thức, cũng như tiến hành cúng dường torma, thực hiện lhasang, hay cúng dường hương, và ban những giáo lý khác và quán đảnh.
Đức Bà là người phụ nữ thứ ba trong lịch sử Tây Tạng được phép trao truyền Lamdre (Đức Bàn đường và quả) - pháp tu chính yếu của Truyền thừa Sakya. Là một bậc trì giữ các giáo lý, một đạo sư thành tựu viên mãn, Đức Bà được biết đến với những bài giảng về Vajrayogini và được Đức Bài là một hóa thân của bổn tôn này và là Đức Bài nguồn của năng lượng nữ giác ngộ.
Vào năm 1951, Đức Bà đã thực hiện một trong những tiên tri đầu tiên và cũng rất nổi tiếng của mình. Đức Bà một tu viện lớn trong khu vực nơi Đức Bà đang giảng dạy, và đây là thời điểm xảy ra những rắc rối chính trị xung quanh vị Nhiếp chính của dòng Radring. Trụ trì của tu viện địa phương, Kardor Rinpoche, đã đứng về phía vị nhiếp chính Radring và vì điều này, ông đã bị chính phủ Tây Tạng bỏ tù. Một phái đoàn đến từ tu viện này đã yêu cầu được diện kiến Sakya Jetsunma và thỉnh nguyện Đức Bà dành một chút thời gian để xác định khi nào vị trụ trì của họ sẽ được ra tù. Đức Bà tiên tri bằng xúc xắc và đề nghị các thành viên của tu viện thực hiện bốn nghi lễ mandala puja của Green Tara, và trì tụng Hai mươi mốt lời ca ngợi Tara một trăm nghìn lần.Năm 1952, trong chuyến viếng thăm Lhasa khi Đức Đạt Lai Lạt Ma công nhận và xác nhận em trai Bà là Sakya Trizin, một nhóm nhà sư đã yêu cầu được diện kiến Đức Bà. Họ cảm ơn Đức Bàmột cách chân thành và sâu sắc. Quên mất sự việc đã xảy ra cách đó 1 năm, Đức Bà hỏi vì sao họ lại cảm ơn. Nhóm nhà sư nói với Đức Bà rằng họ đã làm theo chỉ dẫn của Đức Bà vào năm ấ, và rằng vị trụ trì của họ đã được trả tự do chỉ một ngày sau khi họ hoàn thành tụng lần thứ một trăm ngàn bài Tán thán Hai mươi mốt Lục Độ Mẫu Tara.
Em trai Đức Bà đã chết khi Đức Bà mới bốn tuổi. Mẹ Đức Bà qua đời năm 1948 khi Jetsunma lên chín và Ngài Sakya Trizin đời thứ 41 lên hai. Em gái của họ qua đời năm 1951 khi mới 8 tuổi và cha của họ qua đời chưa đầy một tháng sau đó, trong một trận dịch ở Sakya. Điều này có nghĩa là những giáo lý thường được truyền bởi cha của họ sẽ phải được đưa ra bởi một đạo sư khác. Dì của họ đưa họ đến Ngor, nơi họ nhận Lamdre từ vị trụ trì Kangsar vĩ đại, Ngawang Lodro Shenpen Nyingpo, Dampa Rinpoche.
Vào năm 1952, sau khi Thánh Đức Đạt Lai Lạt Ma nhận anh trai Đức Bà là Sakya Trizin, kế hoạch ban đầu của họ là tiếp nhận sự giảng dạy từ Đức Jamyang Khyentse Chokyi Lodro vĩ đại ở Kham đã phải thay đổi vì vị Chủ ngôi truyền thừa Sakya không thể mạo hiểm đi quá xa khỏi Sakya và các nhiệm vụ của mình. Thay vào đó, họ lại đến gặp vị trụ trì vĩ đại của Ngor, Dampa Rinpoche, người sống gần đó, để học Lamdre Lobshe, những giáo lý trung tâm của dòng truyền thừa Sakya. Thật không may, Ngài Dampa Rinpoche qua đời trước khi Đức Bà có thể hoàn thành việc trao truyền này, và nhiệm vụ đó đã được Kangsar Shabdrung, Ngawang Lodro Tenzin Ngingpo, đảm nhận. Jetsun kể lại rằng từ lúc Đức Đạt Lai Lạt Ma ban sự công nhận cho em trai Đức Bà, “Đức Pháp Chủ và tôi sẽ luôn đồng hành cùng nhau, và bất cứ nơi nào Ngài đi, tôi cũng đi và tôi luôn ở bên Ngài.”. Từ thời điểm này trở đi cho đến khi di cư sang Ấn Độ, họ đã nhận được những giáo lý giống nhau và thực hiện những cuộc nhập thất giống nhau. Cùng lúc Đức Bà và Đức Pháp Chủ nhận những trao truyền Lamdre Lobshe từ các vị trụ trì Kangsar, họ cũng nhận những trao truyền kinh điển hoặc khẩu truyền về tiểu sử của Ngorchen Kunchok Lhundrup từ vị trụ trì Ngor của dòng tộc Phende, Phende Khenpo, Ngawang Khedrup Gyatso. Đây là năm 1953.
Năm 1954, họ nhận sự trao truyền Druptap Kuntu từ Khangsar Shabdrung, Ngawang Lodro Tenzin Nyingpo. (Druptap Kuntu là một bộ sưu tập lớn các quán đảnh và nghi quỹ từ cả bốn bộ Mật điển, được biên soạn vào thế kỷ 19 bởi Jamyang Khyentse Wangpo và học trò chính của ông, Jamyang Loter Wangpo).
Khi Jetsunma mười sáu tuổi, Đức Bà và Đức Sakya Trizin 41 tiến hành nhập thất Hevajra. Thầy của họ cũng nhập thất với họ. Mặc dù họ thực hiện khóa nhập thất trong những phòng riêng biệt, nhưng họ vẫn giữ liên lạc qua những ghi chú được trao đi gửi lại, bắt đầu vào cùng ngày và kết thúc vào cùng ngày. Họ đã thực hiện tất cả các thực hành cần thiết của các thần chú Hevajra khác nhau, cũng như các thần chú của Nairatmya. Họ ở trong khóa nhập thất này trong bảy tháng rưỡi, và tiếp theo đó là khóa nhập thất một tháng về Kim Cương Kim Sí Điểu, trong đó Đức Bà trì tụng thần chú một triệu năm trăm nghìn lần. Khi họ kết thúc khóa nhập thất này, dì của Đức Bà đã khẩn cầu Đức Bà thực hiện một khóa nhập thất bảy ngày ở Ling Gesar để phát triển khả năng tiên tri của mình bằng cách thấy trước tương lai trong gương, và Đức Bà cũng đã hoàn thành khóa nhập thất này.
Ngay sau khi Đức Bà rời khóa nhập thất này, vào năm 1955, một đám đông các nhà sư từ Kham đã đến Sakya, và thỉnh cầu các giáo lý Lamdre từ Đức Sakya Trizin 41, người vì lịch trình riêng của mình đã không thể hứa khả cho hội chúng. Sau đó dì của họ thuyết phục Đức Bà, lúc đó mười sáu tuổi, tự mình giảng dạy. Lamdre là một giáo khóa hoàn chỉnh bao gồm đầy đủ các giáo lý Phật giáo, từ Tiểu thừa đến Đại thừa và cho đến và bao gồm cả Kim cương thừa. Nó xoay quanh mạn đà la trung tâm hay sự trao truyền Hevajra của Virupa. Đức Bà đã ban cho hội chúng phiên bản Lamdre ngắn của Ngawang Chodruk, cũng như khẩu truyền cho họ tất cả các thực hành và nghi lễ khác nhau liên quan đến dòng truyền thừa Sakya. Toàn bộ quá trình trao truyền này kéo dài khoảng ba tháng. Vì vậy, bà trở thành người phụ nữ thứ ba trong lịch sử Sakya truyền Lamdre, và vào năm 1956 khi bà và Đức Sakya Trizin đời 41 đến Lhasa để nhận giáo lý trung bình về Lam Rim từ Đức Đạt Lai Lạt Ma, bà dẫn đầu đoàn với chiếc mão truyền thừa màu đỏ chỉ thường thấy ở những Bậc Đạo sư cao quý và được che bởi một cái lọng vàng..
Cũng vào năm 1956, bà và Đức Sakya Trizin đời 41 đã nhận toàn bộ những trao truyền Nyingma về Long Chen Nying Tik từ Đức Jamyang Khyentse Chokyi Lodro, người đang ở Lhasa vào thời điểm đó. Đức Jamyang Khyentse Chokyi Lodro đến Sakya vào cuối năm đó để trao cho họ Chak Mey Nam Zhi, hay Bốn Thực hành Không gián đoạn, mà những người đã nhận được giáo lý Lamdre đầy đủ phải thực hành hàng ngày. Đó là: 1) Nghi quỹ Lam Dus Hevajra, 2) Nghi quỹ Vajrayogini, 3) thiền định Bir Sung hay Virupa Protection, và 4) thiền định Lam Zap hay Con đường thiền định về Đạo sư Du Già tuyệt hảo.
Năm 1958, em trai Đức Bà được tấn phong tại Sakya với tư cách là Đức Pháp Chủ Sakya Trizin. Vài tháng sau đó, sau khi Tây Tạng bị mất rõ ràng vào tay Trung Quốc, Đức Bà, Đức Pháp chủ Sakya Trizin, dì của họ và một số thị giả đã trốn sang Ấn Độ.
Ở Ấn Độ, Jetsun Kushok mô tả mình là một tomboy. Đức Bà đã nghiên cứu Nang Sum (ba tầm nhìn) và Dom Sum Rabye (những lời nguyện của Tiểu thừa, Đại thừa và Kim cương thừa) của Sakya Pandita. Tuy nhiên, cuộc sống của Đức Bà tại Ấn Độ ngày càng trở nên khó khăn với vẻ bên ngoài của một nữ tu sĩ, nhưng lại không được sống trong môi trường của một tu viện.. Đức Bà thấy mình là đối tượng của sự chế giễu và khinh bỉ vì đầu cạo trọc và mặc trang phục tu sĩ Tây Tạng, và sau khi hỏi ý kiến Đức Đạt Lai Lạt Ma và em trai, Đức Bà đã quyết định trả lại y áo của mình, mặc dù Đức Bà vẫn tiếp tục cư xử như một nữ tu vào mỗi ngày.
Tại đây, Đức Bà đã học tiếng Anh với một người truyền giáo đến từ Phương Tây, và đã gặp được Ngài Luding Sey Kusho, em trai của Đức Ngor Luding Khen Rinpoche. Bởi vì truyền thừa Luding được nối ngôi theo huyết thống, và làm một nhánh quan trọng của truyền thừa Sakya, dì của Đức Bà và các Đạo sư đã thỉnh nguyện Đức Bà trở thành phối ngẫu của Ngài Sey Kushok. Thoạt đầu, Đức Bà đã từ chối. Tuy nhiên, Bà đã bị thuyết phục bởi vì truyền thừa Luding cần một người nối ngôi. Bà kết hôn với Ngài Luding vào năm 1964.
Người con thứ ba của họ, sinh năm 1967, khác hẳn những người con khác. Đức Bà kể lại rằng cậu không khóc như những đứa trẻ khác và cậu sẽ thức dậy và tựchơi đùa bằng thủ ấn và lẩm bẩm một mình như thể cậu đang đọc kinh. Khi lên ba hoặc bốn tuổi, cậu ấy tỏ ra thực sự muốn trở thành một nhà sư và rất vui khi được ở gần những người đã xuất gia. Khi có các nghi lễ tôn giáo, anh ấy thích tham dự hơn là chơi với những đứa trẻ khác. Đây là đứa trẻ sẽ trở thành Luding Shabdrung.
Để lại Shabdrung Rinpoche, khi ấy bốn tuổi, cho các chú chăm sóc, Đức Bà Sakya Jetsun Rinpoche cùng chồng và ba đứa con trai nhỏ đến Canada và định cư tại một trang trại với tư cách là những người lao động ở Taber, Alberta vào năm 1971. Năm 1973, họ đến Vancouver, British Columbia. Hiện họ sống ở Richmond, ngoại ô Vancouver.
Lúc đầu Đức Bà không muốn giảng Pháp vì cần phải chăm sóc gia đình và kiếm sống. Tuy nhiên, khi Thánh Đức Đạt Lai Lạt Ma và Dezhung Rinpoche bắt đầu giảng dạy ở New York, họ đã nhiều lần được hỏi về những vị trì giữ dòng truyền thừa đích thực là nữ. Cả hai đều yêu cầu Đức Bà bắt đầu giảng Pháp trở lại. Kể từ đó, Đức Bà đã thành lập một trung tâm giáo pháp ở Vancouver, Sakya Thubten Tsechen Ling, và một trung tâm khác ở Oakland, California, Sakya Dechen Ling. Đức Bà đến thăm các trung tâm thành viên khác của Palden Sakya (hiệp hội các trung tâm Phật pháp Sakya tại Hoa Kỳ) ở New York, Boston, Los Angeles, Minneapolis và Washington DC. Jetsun Kushok cũng đã giảng dạy ở Singapore và Hawaii và hiện đang ban quán đỉnh và giáo lý trên khắp Hoa Kỳ và Châu Âu.
Ngày nay, Đức Bà có một nhiệm vụ đặc biệt là giảng dạy và trở thành một hình mẫu cho tất cả các học viên, nhưng đặc biệt là phụ nữ trên con đường tu tập.