Thượng thủ Pháp sư Sakya Trizin thứ 40 tại Vườn Dekyi Lingka, Lhasa, Tây Tạng năm 1947 cùng với gia quyến hoàng gia Phuntsok Phodrang của Ngài sau lễ đăng quang, viếng thăm Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14.

Thước phim hiếm hoi và độc đáo này quay ở Tây Tạng vào những năm 1950 trích trong một đoạn phim tời sự về dòng tộc hoàng gia Sakya ở Lhasa, Tây Tạng, trong chuyến thăm Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 vào mùa hè. Cảnh phim này có cả Đức Đạt Lai Lạt Ma lúc còn trẻ được các vị thầy của mình (như Kyabje Ling Rinpoche) và các Lạt ma bao quanh cùng với gia quyến truyền thừa Sakya.
Dòng truyền thừa Sakya là một trong những người Tây Tạng đầu tiên có mặt ở Hoa Kỳ, từ lời mời tài trợ của Quỹ bảo hộ Rockefeller cho một nghiên cứu tại Đại học Washington ở Seattle. Con trai thứ 4 của họ, HE Zaya Sakya là người Tạng đầu tiên được sinh ra ở Hoa Kỳ. Thượng thủ Pháp Sư HH Dagchen Rinpoche, người đứng đầu dòng truyền thừa, đồng sáng lập với Ngài Dezhung Rinpoche III chi nhánh Tự viện Phật giáo Tây Tạng đầu tiên tại Hoa Kỳ, đặt tên là Tự viện Sakya.
(Ngài Dezhung Rinpoche, học giả và nhà huyền môn Phật giáo nổi tiếng Sakya là nhân vật chính chủ đề của quyến sách tiểu sử, A Saint in Seattle của David P. Jackson)
Seattle, Washington, Hoa Kỳ hiện là quê hương của dòng dõi Phật giáo Tây Tạng Sakya Phuntsok Phodrang, được tôn kính trên toàn thế giới. Các thành viên của hoàng tộc là công dân Mỹ. Màu sắc của Tự viện Sakya từ năm 1073 là đỏ, trắng và xanh, giống như cờ của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Tự viện Sakya của Phật giáo Tây Tạng tại Seattle được thành lập năm 1974, 900 năm sau. Tòa nhà Greenwood, vốn là một nhà thờ, đã được mua lại vào năm 1984 và được sửa đổi cho phù hợp với các tiêu chuẩn tôn giáo truyền thống, cũng như các quy tắc xây dựng tại Seattle.
Dòng truyền thừa Sakya có thể truy tìm phả hệ gia đình của mình từ một ngàn năm trước, hơn 40 thế hệ.

Thượng thủ Pháp sư Ngài HH Dagchen Rinpoche, Cơn Địa chấn của Giác ngộ, đã từng giảng dạy tại Đại học Washington, và bây giờ khi đã hơn 80 tuổi Ngài vẫn tiếp tục truyền pháo tại Tự viện Sakya và trên toàn thế giới. Cha của Ngài là Đức Thượng thủ Pháp sư Sakya Trizin thứ 40, Ngawang Tudop Wangchuk Pal Sangpo, vị Lạt ma cao tuổi có mặt trong hầu hết các cảnh quay được thấy trong thước phim này. Một Ngài Dagchen Rinpoche trẻ tuổi được nhìn thấy ở bên phải khi thước phim bắt đầu và bên trái khi kết thúc.

Trong cuốn tiểu sử “Một vị thánh ở Seattle” nói rằng danh tự tôn vinh của mẹ của Ngài Dagchen Rinpoche là “Bdga mo Mus Shang Bya rigs Bde chen sgrol ma”, hay Dagmo Dechen Drolma. Bà sống từ (1901-1954); trang 622, ghi chú 561.

Danh hiệu “Kusho” có nhiều ý nghĩa khác nhau như sku shabs (chân Đức ngài) và sku shags (đức ngài, đức cao thượng) thường được đọc là ku-sho, với chữ g không phát âm. Người Mỹ có thể gọi họ là, “Quý Ngài”, “Tướng công” tùy trường hợp.

Thông tin theo nghệ sỹ tác giả thước phim:

Một thước phim dài 30 giây về Dagchen Rinpoche, cha và mẹ của Ngài, cúng anh chị em ở Lhasa vào năm 1947. Đây là khi Ngài Ngawang Thutop Wangchuk trở thành Đức Sakya Trizin thứ 40. www.flickr.com/photos/wonderlane/3306352252/
Dòng tộc truyền thừa xương (huyết thống) thực sự của là tộc Khon. Tộc Khon được cho là Hậu duệ trực tiếp của các vị Thiên thuộc các cõi Tịnh độ của chư Phật. Sau đó dòng tộc Khon định cư ở một khu vực nơi họ có mâu thuẫn với Quỷ La sát. Và tên Khon bắt nguồn từ đây. Vị Khon đầu tiên tham gia vào chuyển pháp luân là Khon Nagendra Rakshdara. Trên thực tế, ông là người đầu tiên trong bảy người Tây Tạng thọ nhận toàn bộ lễ xuất gia Phật giáo từ vị Trụ trì vĩ đại Shandha Raksharatha. Điều này được dự định như là một thử nghiệm để kiểm tra xem người Tây Tạng (man rợ) có thể giữ lời thề của người xuất gia hay không. Một trong số họ là Nagendra Rakshdara, và tất cả đều rất thành công, đó là một khởi đầu rất cát tường của truyền thống Tự viện Tây Tạng vĩ đại, và Đạo sư của họ là Đức Liên Hoa Sinh.

Ngoài ra, về các Khon trong nhiều thế hệ trước đó: bổn tôn chính của truyền thừa là Đức Kim Cương Phổ Ba, và tất cả đều là đệ tử của truyền thừa Nyingmapa cho đến đời Khon Kunchok Gyalpo. Trong thời gian nắm quyền, ông đã nhận được Lam-Dre của Đại thành tựu giả Virupa và bắt đầu tạo dựng truyền thừa Sakya, với Tự viện đầu tiên được thành lập 1073.

Con trai của Khon Konchog Gyalpo là Sachen Kunga Nyingpo (1092-1158). Ngài là một người có kỹ năng siêu việt và thành tựu tâm linh phi thường, người nắm giữ tất cả các Kinh tạng và Mật tạng của truyền thừa. Các vị đạo sư chính của Ngài bao gồm chính người cha của mình, người chủ yếu dạy cho ông thực hành Bổn tôn Kim Cương Phổ Ba và Hệ thống thực hành Không nhị nguyên-Tính không-Hợp nhất; Ngài Bari Lotsawa, người đã dạy Ngài về Thắng Lạc Kim Cương, Bí mật tập hội đát-đặc-la, Đấng Văn Thù Chiến Thắng Dạ Ma Vương, v.v.; Ngài Shangton Chobar, người đã truyền giảng suốt bốn năm toàn bộ hệ thống Lamdre cho Ngài, cùng với pháp tu của Ma-gia thân mẫu đức Phâth và Samayogadakinijala; Ngài Mal Lotsawa Lodro Drag, người đã truyền dạy các bổn tôn Thắng Lạc Kim Cương, Đấng Văn Thù Chiến Thắng Dạ Ma Vương, giáo pháp của Đại thành tưu giả Naropa, cụ thể là Kim Cương Du già thánh nữ, và quan trọng nhất là ngài đã nhận được pháp tu hộ pháp 2 tay Panjanatha Mahakala của truyền thừa. Ngài cũng tiếp nhận tất cả các chỉ dẫn, bên ngoài, bên trong và bí mật của Người Hộ pháp Bảo hộ bốn mặt Caturmukha từ ngài Lama Nam Ka’upa.

Tishri Kunga Lodrö Gyaltsen (1299-1327), Người con trai cả của anh trai Sakya Pandita, đã thành lập bốn tự viện (podrang): Zhithog, Rinchen Gang, Lhakhang và Ducho. Hiện chỉ còn lại cung điện Ducho tồn tại. Tự viện Ducho được chia thành hai cung điện ‘anh em’ được gọi là Drolma Podrang và Phuntsok Podrang. Drolma Podrang được thành lập bởi con trai cả của Sakya Trizin Jamgon Wangdue Nyingpo, Pema Dhondup Wangchuk, trong khi Phunstok Podrang được thành lập bởi con trai út của ông, Kunga Rinchen. Quyền lãnh đạo trong hoàng tộc Khon sau đó theo truyền thống được kế thừa thay đổi giữa Drolma và Phuntsok Podrangs. Người đứng đầu Sakya hiện tại là HH Sakya Trizin từ Drolma Podrang tại Rajpur, Ấn Độ. Trong khi HH Jigdral Dagchen Gongma Rinpoche là người đứng đầu Phunstok Podrang, có trụ sở tại Seattle,

1. Khon Konchog Gyalpo 1034 1102 1073 – 1102
2. Bari Lotsawa Rinchen Drag 1040 1111 1103 – 1110
3. Tsewa Chenpo Sachen Kunga Nyingpo (§) 1092 1158 1111 – 1158
4. Loppon Rinpoche Sonam Tsemo (§) 1142 1172 1159 – 1171
5. Jetsun Rinpoche Dragpa Gyaltsen (§) 1147 1216 1172 – 1215
6. Choeje Sakya Pandita (§) 1182 1251 1216 – 1243
6a. Regent of Sakya Pandita 1243 – 1264
7. Drogon Choegyal Phagpa (First reign) (§) 1235 1280 1265 – 1266
7a. (Second reign) (§) 1276 – 1280
8. Chung Rinchen Gyaltsen 1238 1279 1267 – 1275
9. Dharmapala Rakshita 1268 1287 1281 – 1287
10. Sharpa Jamyang Chenpo 1258 1306 1288 – 1297
11. Dagnyid Chenpo Sangpo Pal 1262 1324 1298 – 1324
12. Zhithogpa Kheytsun Chenpo * 1305 1343 1324 – 1342 (circa)
13. Rinchen Gang Labrang Jamyang Donyod Gyaltsen ** 1310 1344 1342 – 1344 (circa)
14. Rinchen Gang Labrang Lama Dampa Sonam Gyaltsen ** 1312 1375 1344 – 1347
15. Lhakhang Labrang Tawan Lodroe Gyaltsen *** 1332 1364 1347 – 1364
16. Zhithogpa Tawan Kunga Rinchen * 1339 1399 1364 – 1399 (circa)
17. Zhithogpa Lodroe Gyaltsen * 1366 1420 1399 – 1420 (circa)
18. Rinchen Gangpa Jamyang Namkha Gyaltsen ** 1398 1472 1421 – 1441
19. Zhithogpa Kunga Wangchug * 1418 1462 1442 – 1462
20. Rinchen Gangpa Dagchen Gyagar Sherab Gyaltsen ** 1436 1494 1463 – 1472
21. Rinchen Gangpa Dagchen Lodroe Gyaltsen ** 1444 1495 1473 – 1495
22. Duchod Labrangpa Salo Jhampai Dorje Kunga Sonam **** (§) 1485 1533 1496 – 1533
23. Duchod Labrangpa Ngagchang Choekyi Gyalpo Kunga Rinchen ****(§) 1517 1584 1534 – 1584
24. Duchod Labrangpa Jamyang Sonam Sangpo **** 1519 1621 1584 – 1589
25. Duchod Labrangpa Dragpa Lodroe Gyaltsen ****(§) 1563 1617 1589 – 1617
26. Duchod Labrangpa Ngawang Kunga Wangyal **** 1592 1620 1618 – 1620
27. Duchod Labrangpa Jamgon Lameshab Kunga Sonam ****(§) 1597 1659 1620 – 1659
28. Duchod Labrangpa Jamgon Sonam Wangchug ****(§) 1638 1685 1659 – 1685
29. Duchod Labrangpa Jamgon Kunga Tashi ****(§) 1656 1711 1685 – 1711
30. Duchod Labrangpa Jamyang Sonam Rinchen ****(§) 1705 1741 1711 – 1741
31. Duchod Labrangpa Sachen Kunga Lodroe ****(§) 1729 1783 1741 – 1783
32. Duchod Labrangpa Jamgon Wangdue Nyingpo **** 1763 1809 1783 – 1806
33. Dolma Phodrang Padma Dudul Wangchug (§) 1792 1853 1806 – 1843
34. Phuntsog Phodrang Jamgon Dorje Rinchen 1819 1867 1843 – 1845
35. Dolma Phodrang Thegchen Tashi Rinchen (§) 1824 1865 1846 – 1865
36. Phuntsog Phodrang Ngawang Kunga Sonam 1842 1882 1866 – 1882
37. Dolma Phodrang Kunga Nyingpo Samphel Norbu (§) 1850 1899 1883 – 1899
38. Phuntsog Phodrang Zamling Chegu Wangdu 1855 1919 1901 – 1915
39. Dolma Phodrang Dragshul Thinley Rinchen (§) 1871 1936 1915 – 1936
40. Phuntsog Phodrang Ngawang Thutob Wangchuk 1900 1950 1947 – 1950
41. Dolma Phodrang Ngawang Kunga Thegchen Palber Thinlay Samphel Wangi Gyalpo 1951 –

Quan điểm triết học được thể hiện trong “Lamdre, Đạo và Quả”, là ‘ sự không phân biệt Samsara (luân hồi) và Nirvana (niết bàn)’ Theo đó, một cá nhân không thể đạt được niết bàn bằng cách từ bỏ luân hồi, bởi vì tâm là gốc rễ của cả luân hồi và niết bàn. Khi bị che khuất, nó là luân hồi và khi được giải thoát khỏi sự che khuất đó là niết bàn. Do đó, thực tế là một người phải cố gắng thông qua thiền định để nhận ra sự không thể tách rời của chính họ. Theo truyền thống Sakya, trong số hàng trăm giáo lý Ấn Độ đã hòa nhập vào đời sống tôn giáo của Tây Tạng thông qua những nỗ lực của Năm vị thầy sáng lập, nổi tiếng nhất là truyền Hevajra bắt nguồn từ Virupa, Vajrakila của Padmasambhava, Vajrayogini của Naropa, Vajrayogini của Naropa của Vararuci và Guhyasamaja của Nagarjuna. Năm Mahasiddhas Ấn Độ này được coi là nổi tiếng nhất ở Sakya. Bên cạnh những giáo lý này là Mười ba Pháp vàng, Chakrasamvara, Samputa, Vajra Bhairava, Kalachakra, Achala, v.v.

0 Comments

Leave a reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

*

Log in with your credentials

or    

Forgot your details?

Create Account