Chủ đề này bao gồm 0 phản hồi, có 1 voice, và đã được cập nhật lần cuối cùng cách đây khoảng  Admin 1 năm, 2 tháng trước.

  • Người viết
    Bài viết
  • #5494
     Admin 
    Quản lý

    Phước Châu Đại An hỏi:

    – Tôi khao khát hiếu pháp phật, đó như là cái gì ?

    Bách Trượng đáp : Hệt như cởi trâu đi tìm trâu.

    Hỏi : Hiếu rồi thì như thế nào?

    Đáp: Như người cưởi trâu về nhà.

    Hỏi: Rồi làm sao giử được cho trước sau khế hợp?

    Đáp: Như người chăn trâu cầm roi giử trâu mình đừng phạm đến lúa mạ người.
    ( Truyền Đăng Lục, quyển 9)

    …………
    Thập mục ngưu đồ (zh. 十牧牛圖, ja. jūgyū-no-zu) là mười bức tranh chăn trâu nổi tiếng trong Thiền tông, tương ứng với quá trình hành đạo của một người phát nguyện đạt Giác ngộ. Mười bức tranh này có thể xem là biểu hiện cô đọng nhất, trình bày tinh hoa của Phật giáo Đại thừa.

    TRANH ĐẠI THỪA TRANH THIỀN TÔNG

    1. Vị mục : chưa chăn 1. Tầm ngưu : tìm trâu

    2. Sơ điều : mới chăn 2. Kiến tích : thấy dấu

    3. Thọ chế : chịu phép 3. Kiến ngưu : thấy trâu

    4. Hồi thủ : quày đầu 4. Đắc ngưu : được trâu

    5. Tuần phục : vâng chịu 5. Mục ngưu : chăn trâu

    6. Vô ngại : không ngại 6. Kỵ ngưu qui gia : cỡi trâu về nhà

    7. Nhiệm vận : tha hồ 7. Vong ngưu tồn nhân : quên trâu còn người

    8. Tương vong : cùng quên 8. Nhân ngưu câu vong : người trâu đều quên(vẽ vòng tròn)

    9. Độc chiếu : soi riêng 9. Phản bổn hoàn nguyên : trở về nguồn cội

    10. Song dẫn : dứt cả hai 10. Nhập triều thùy thủ : thõng tay vào chợ (vẽ vòng tròn)

    Các bức tranh chăn trâu được sáng tạo trong thời nhà Tống (960-1279) và ngay từ đầu đã được xem như những bức hoạ tiêu biểu, trình bày tinh hoa, cốt tuỷ của Thiền Trung Quốc. Có nhiều bộ tranh – có thuyết nói là bốn, thuyết khác nói là 5, 6 chăn trâu khác nhau – nhưng có lẽ nổi danh nhất và cũng bao hàm ý nghĩa nhiều nhất là bộ với mười bức tranh của Thiền sư Khuếch Am Sư Viễn (zh. kuòān shīyuǎn 廓庵師遠, ja. kakuan shion, ~1150), được lưu lại trong bản sao của hoạ sĩ người Nhật tên Châu Văn (周文, ja. shūbun, ?-1460).

    Một bộ khác với sáu bức tranh cũng thường được nhắc đến. Ban đầu, Thiền sư Thanh Cư (zh. qīngjū 清居, ja. seikyo) chỉ vẽ có năm bức nhưng sau, Thiền sư Tự Đắc (zh. zìdé 自得, ja. jitoku, tk. 12) vẽ thêm bức tranh thứ sáu. Trong bộ này, con trâu dần dần trắng ra và cuối cùng thì trắng hoàn toàn, một biểu tượng cho chân tâm thanh tịnh, vô cấu.

    Mười bức tranh sau được xem là của Thiền sư Khuếch Am Sư Viễn. Những bức tranh này cũng được chú thích rất rõ, rất hay trong Thiền luận của Daisetz Teitaro Suzuki, bản dịch của Trúc Thiên và Thích Tuệ Sỹ. Bài tụng của Thiền sư Khuếch Am được Thích Thanh Từ dịch.

    Tìm trâu

    尋牛
    ① 尋牛
    茫茫撥草去追尋。
    水闊山遙路更深。
    力盡神疲無處覓。
    但聞風樹晩蟬吟。

    Tầm ngưu
    Mang mang bát thảo khứ truy tầm
    Thuỷ khoát sơn dao lộ cánh thâm
    Lực tận thần bì vô xứ mịch
    Đãn văn phong thụ vãn thiền ngâm
    Nao nao vạch cỏ kiếm tìm trâu
    Núi thẳm đường xa nước lại sâu
    Kiệt sức mệt nhoài tìm chẳng thấy
    Chỉ nghe réo rắt giọng ve sầu.
    Thấy dấu

    見跡
    ② 見跡
    水邊林下跡偏多。
    芳草離披見也麼。
    縱是深山更深處。
    遼天鼻孔怎藏他。

    Kiến tích
    Thuỷ biên lâm hạ tích thiên đa
    Phương thảo li phi kiến dã ma
    Túng thị thâm sơn cánh thâm xứ
    Liêu thiên tị khổng chẩm tàng tha
    Ven rừng bến nước dấu liên hồi
    Vạch cỏ ruồng cây thấy được thôi
    Ví phải non sâu lại sâu thẳm
    Ngất trời lỗ mũi hiện ra rồi.
    Thấy trâu

    見牛
    ③ 見牛
    黄鶯枝上一聲聲。
    日暖風和岸柳青。
    只此更無廻避處。
    森森頭角畫難成。

    Kiến ngưu
    Hoàng oanh chi thượng nhất thanh thanh
    Nhật noãn phong hoà ngạn liễu thanh
    Chỉ thử cánh vô hồi tị xứ
    Sâm sâm đầu giác hoạ nan thành
    Hoàng anh cất tiếng hót trên cành
    Nắng ấm gió hoà bờ liễu xanh
    Chỉ thế không nơi xoay trở lại
    Đầu sừng rành rõ vẽ khôn thành
    Bắt trâu

    得牛
    ④ 得牛
    竭盡神通獲得渠,
    心强力壯卒難除。
    有時才到高原上,
    又入煙雲深處居。

    Đắc ngưu
    Kiệt tận thần thông hoạch đắc cừ
    Tâm cường lực tráng tốt nan trừ
    Hữu thời tài đáo cao nguyên thượng
    Hựu nhập yên vân thâm xứ cư
    Dùng hết thần công bắt được y
    Tâm hùng sức mạnh khó khăn ghì
    Có khi vừa hướng cao nguyên tiến
    Lại xuống khói mây mãi nằm ì
    Chăn trâu

    牧牛
    ⑤ 牧牛
    鞭索時時不離身。
    恐伊縱歩惹埃塵。
    相將牧得純和也。
    羈鎖無拘自逐人。

    Mục ngưu
    Tiên sách thời thời bất li thân
    Khủng y túng bộ nhạ ai trần
    Tướng tương mục đắc thuần hoà dã
    Ki toả vô câu tự trục nhân
    Nắm chặt dây roi chẳng lìa thân
    Ngại y chạy sổng vào bụi trần
    Chăm chăm chăn dữ thuần hoà dã
    Dây mũi buông rồi vẫn theo gần
    Cưỡi trâu về nhà
    Sửa đổi

    騎牛歸家
    ⑥ 騎牛歸家
    騎牛沫汁欲還家。
    霞笛聲聲送晩霞。    
    一拍一歌無限意。
    知音何必鼓唇牙。
       
    Kị ngưu quy gia
    Kị ngưu mạt trấp dục hoàn gia
    Hà địch thanh thanh tống vãn hà
    Nhất phách nhất ca vô hạn ý
    Tri âm hà tất cổ thần nha
    Cưỡi trâu thong thả trở về nhà
    Tiếng sáo vi vu tiễn vãn hà
    Một nhịp một ca vô hạn ý
    Tri âm nào phải động môi à
    Quên trâu còn người

    忘牛存人
    ⑦ 忘牛存人
    騎牛已得到家山。
    牛也空兮人也閑。
    紅日三竿猶作夢。
    鞭繩空頓草堂間。

    Vong ngưu tồn nhân
    Kị ngưu dĩ đắc đáo gia san
    Ngưu dã không hề nhân dã nhàn
    Hồng nhật tam can do tác mộng
    Tiên thằng không đốn thảo đường gian
    Cưỡi trâu về thẳng đến gia san
    Trâu đã không rồi người cũng nhàn
    Mặt nhật ba sào vẫn say mộng
    Dây roi dẹp bỏ bên cạnh sàng
    Người, trâu đều quên

    人牛俱忘
    ⑧ 人牛俱忘
    鞭索人牛盡屬空。
    碧天遼闊信難通。
    紅爐焰上爭容雪。
    到此方能合祖宗。

    Nhân ngưu câu vong
    Tiên sách nhân ngưu tận thuộc không
    Bích thiên liêu khoát tín nan thông
    Hồng lô diệm thượng tranh dung tuyết
    Đáo thử phương năng hợp tổ tông
    Roi gậy, người trâu thảy đều không
    Trời xanh thăm thẳm tin chẳng thông
    Lò hồng rừng rực nào dung tuyết
    Đến đó mới hay hiệp Tổ Tông
    Trở về nguồn cội

    返本還源
    ⑨ 返本還源
    返本還源已費功,
    爭如直下若盲聾。
    庵中不見庵前物,
    水自茫茫花自紅。

    Phản bản hoàn nguyên
    Phản bản hoàn nguyên dĩ phí công
    Tranh như trực hạ nhược manh lung
    Am trung bất kiến am tiền vật
    Thuỷ tự mang mang hoa tự hồng
    Phản bản hoàn nguyên đã phí công
    Đâu bằng thẳng đó tợ mù câm
    Trong am chẳng thấy ngoài vật khác
    Nước tự mênh mông hoa tự hồng
    Thõng tay vào chợ

    入廛垂手
    ⑩ 入廛垂手
    露胸跣足入鄽來,
    抹土涂灰笑滿腮。
    不用神仙真秘訣,
    直教枯木放花開。

    Nhập triền thuỳ thủ
    Lộ hung tiển túc nhập triền lai
    Mạt thổ đồ khôi tiếu mãn tai
    Bất dụng thần tiên chân bí quyết
    Trực giáo khô mộc phóng hoa khai
    Chân trần bày ngực thẳng vào thành
    Tô đất trét bùn nụ cười thanh
    Bí quyết thần tiên đâu cần đến
    Cây khô cũng khiến nở hoa lành

    Lúc còn trụ tại Quy Sơn, Thiền sư Trường Khánh Đại An dạy chúng: “… Sở dĩ, Đại An này ở tại Quy Sơn ba mươi năm, ăn cơm Quy Sơn, đại tiện Quy Sơn mà không học thiền Quy Sơn, chỉ coi chừng con trâu. Nếu nó lạc đường hay vào trong cỏ liền lôi nó lại. Nếu nó ăn lúa mạ của người liền đánh đập điều phục nó… Bây giờ nó đã trở thành con trâu trắng đứng trước mặt, trọn ngày hiện sờ sờ đuổi cũng chẳng đi…”.

    Mã Tổ hỏi đệ tử mình là Thạch Củng Huệ Tạng: “Làm việc gì?” Thạch Củng thưa: “Chăn trâu.” Tổ hỏi: “Làm sao chăn?” Thạch Củng đáp: “Một khi vào cỏ thì nắm mũi kéo lại.” Tổ nghe bảo: “Con thật là khéo chăn trâu.”

    TG : Khuyết danh ( unanimous )
    Nguồn : Internet.

Đang xem bài viết thứ 1 (trong tổng số 1 bài viết)

Bạn cần đăng nhập để phản hồi chủ đề này.

Log in with your credentials

or    

Forgot your details?

Create Account