Sưu tầm: Liên Trì

Ban biên tập và dịch thuật Sakya Việt Nam

Sau khi chết sẽ hết hay chúng ta sẽ đi đâu về đâu, tồn tại dưới hình thức như thế nào, liệu có đón nhận một tái sinh mới v.v… là đề tài mà không chỉ các nhà khoa học hiện nay mà tất cả các tôn giáo, các trường phái triết học từ lâu đều cố công tìm câu trả lời.

Với những trường phái triết học hoặc tôn giáo không thừa nhận luật nhân quả và luân hồi, như phái Số luận của Ấn Độ, đều cho rằng chết là hết, không tồn tại một linh hồn và không có kiếp trước kiếp sau để tái sinh. Còn với những tôn giáo có thừa nhận nhân quả và luân hồi như Đạo Mẫu, Ki-tô giáo, Phật giáo,v.v…lại nói đến các hồn ma hay sự tái sinh, đầu thai vào các cõi cao thấp tùy vào những tội ác và thiện hành lúc sinh thời, theo những cách khác nhau.

Đại đa số các tôn giáo và trường phái triết học đó đều có nói đến những linh hồn được tạo ra từ đức Chúa trời, Thánh Mẫu… và thể xác từ tro bụi nên sự chết diễn ra khi hồn lìa khỏi xác, bụi tro lại trở về với đất cát tứ đại còn linh hồn lại trở về nơi Đức Chúa trời, “cho đến ngày nào ngươi trở về với đất, là nơi mà có ngươi ra, vì ngươi là bụi ngươi sẽ trở về với bụi” (Sáng thế ký 3:31), và “thần linh trở về nơi Đức Chúa trời, là Đấng đã ban nó” (Truyền đạo 12:7).

Đạo Phật công nhận kiếp trước kiếp sau, và nhân quả nhưng không thừa nhận sự tồn tại của một Đấng Chúa trời hay Đấng tạo hóa tạo nên linh hồn, mà chỉ có tâm vô thường gắn liền với thể xác lúc sống, và là nhân bước sang giai đoạn bardo – thân trung ấm để đi tìm kiếp tái sinh tiếp theo.

Vậy bardo hay thân trung ấm là gì, mang đặc điểm ra sao và đi tái sinh như thế nào?

  1. Bardo – thân trung ấm là gì?

Từ bardo trong tiếng Tây Tạng nghĩa là trạng thái trung gian, là khe hở giữa hai trạng thái khác nhau. Như vậy từ bardo là từ chỉ trạng thái trong khoảng thời gian từ khi chết đi đến khi có được thân tái sinh mới.

Tuy nhiên ở đây cần nói tới một điểm quan trọng là liệu có phải tắt thở là chết hay cái chết được tính từ thời điểm nào và diễn ra ra sao?

Cơ thể con người được hình thành từ 72000 kinh mạch cùng 5 loại khí. 5 loại khí bao gồm:

  1. Khí trợ sinh: trụ nơi tim và dạng thô của khí này điều khiển sự thở hít, ợ hơi, khạc nhổ…
  2. Khí chuyển thượng: trụ chính giữa lồng ngực, vận hành qua cổ họng và miệng; nó điều khiển chính yếu lời nói, việc nuốt thức ăn và nước bọt, và cũng điều khiển các khớp xương.
  3. Khí toàn thân: Trụ ở chính giữa đỉnh đầu, điều khiển động tác cúi gập mình, co duỗi tứ chi, khép mở miệng và mí mắt.
  4. Hỏa khí (còn gọi là khí hòa hợp): Trụ ở tầng thứ 3 của dạ dày. Khí này di chuyển trong các cơ quan nội tạng như phổi, tim, gan, túi mật… và di chuyển trong cả các kinh mạch của tứ chi. Hỏa khí điều khiển sự tiêu hóa thức ăn, phân tách riêng các thức tinh lọc khỏi các thức phế thải…
  5. Khí chuyển hạ: Trụ tại bụng dưới và di chuyển trong tử cung (dạcon) của người nữ, hoặc trong ống dẫn tinh của người nam, trong bọng đái, trong đùi… Khí này điều khiển đóng mở đường tiểu tiện, đại tiện và đường kinh nguyệt.

Có 72.000 kinh mạch như thế, ba kinh mạch chính chạy từ trên trán vòng qua đỉnh đầu để đi dọc xuống cột xương sống lưng cho đến bộ phận sinh dục. Các trung tâm xếp dọc theo ba kinh mạch trung ương là các luân xa (với số lượng nan hoa hoặc cánh khác nhau). Có 7 luân xa nằm tại trán, đỉnh đầu, cổ họng, tim, đám rối dương (solar plexus), xương cụt của cột sống lưng và tại bộ phận sinh dục. Tại các luân xa này, kinh mạch phải và trái quấn bao vòng

quanh kinh mạch trung ương, thắt chặt nó lại và cũng làm giảm bớt hoặc ngăn chặn luồng khí chạy ngang qua.

Lúc lâm chung, khí lực làm nền tảng của tâm thức tan rã vào hai luồng khí của kinh mạch phải và trái. Hai khí này sau đó lại tan rã vào khí của kinh mạch trung ương, và từ đó các kinh mạch đang bị thắt chặt được nới lỏng dần để cho khí chuyển động tự do bên trong, làm xuất hiện tâm vi tế.

Dọc theo đường kinh mạch trung ương có các giọt khí trắng và đỏ, làm căn cứ cho năng lực sinh lý và tâm lý – giọt khí trắng phần lớn tụ trên đảnh đầu, giọt khí đỏ thì tụ nhiều ở đám rối dương. Các giọt khí này xuất phát từ các giọt khí trắng-đỏ trụ ở luân xa tim, kích thước bằng khoảng hạt mù tạt hay hạt đậu Hòa Lan nhỏ. Các giọt khí này có phần trên màu đỏ và phần dưới màu trắng, được gọi là khí bất hoại, tồn tại cho đến lúc cuối của sự chết. Chính khí trợ sinh siêu vi tế nằm trong khí bất hoại này và lúc lâm chung, tất cả các khí đều tan rã vào trong khí bất hoại, ngay lúc đó là ánh sáng tịnh quang (ánh sáng trong suốt như ánh rạng đông) của sự chết hé rạng. Đó chính là sự chết thực sự.  

Vì hơi thở bên ngoài (có thể dò thấy được qua lỗ mũi) đã ngưng từ lâu trước đó, ở chu kỳ[1] mà mười loại khí đổ về tim; thở ra hít vào ngưng hẳn, cơ thể không còn vận động được nữa, và ý thức về các hoạt động bên ngoài không còn v.v…, cho nên thời điểm của cái chết không do nơi hơi thở vào hay ra mà là lúc người chết thấy tâm thức ánh tịnh quang[2] xuất hiện. Người chết thường trụ trong trạng thái rỗng không trong suốt này khoảng 3 ngày, sau đó (nếu cơ thể chưa bị hủy hoại bởi bạo bệnh), có các dấu hiệu bên ngoài là máu mủ tiết ra từ lỗ mũi và bộ phận sinh dục, cho biết thần thức đã rời khỏi thân. Chỉ lúc đó mới là lúc an toàn để di chuyển thi thể và làm ma chay. Trước đó, thần thức vẫn còn trụ trong thân và bất cứ động chạm mạnh nào cũng làm trở ngại giai đoạn tối hậu của tiến trình chết, với hậu quả là thần thức có thể phải đi đầu thai cảnh giới thấp.

Ở điểm này, khí cực vi tế và thần thức lìa khỏi các giọt khí trắng-đỏ đã mở tại tim và thoát ra ngoài. Bỏ cơ thể lại, và một thân mới là thân trung ấm được thành hình. Thân trung ấm, lúc đó là một thân tạo bằng khí với hình dạng của thân người trong cảnh giới tái sinh sắp tới, nhưng tách rời khỏi các uẩn của thân cũ (là thân của kiếp vừa mới chết) mang theo nghiệp quả (của các hành động quá khứ).

  1.   Đặc điểm của thân trung ấm 

Sau khi thân trung ấm được hình thành, nó vội vã đi tìm nơi tái sinh, tìm hương để ăn mà sống (nên được gọi là thực hương ấm) v.v…Và vì mang một thân có tâm thức cực vi tế, tạo thành chỉ nhờ năng lượng của khí, và do đã bỏ lại thân thô lậu cấu tạo bởi các phần tử nặng trược gồm thịt, máu thô v.v…, nên thân trung ấm còn được gọi là Báo thân căn bản – là căn bản của sự tịnh hóa để có thể chuyển hóa thành Báo thân.

Thân trung ấm đều có các đặc tính: đầy đủ các giác quan; được sinh ra một cách tự nhiên nên tất cả các chi chính và phụ đều sinh ra đầy đủ đồng thời với thân; nó có thân vi tế nên không thể bị tiêu diệt dù bằng vật cứng như kim cương; trừ nơi tái sinh của là trong dạ con, bụng mẹ thì không vật gì có thể cản được thân trung ấm đi qua; nhờ vào sức mạnh của nghiệp lực, nên có thể đi đến bất cứ nơi nào nó muốn.

Thọ mạng của một kiếp của thân trung ấm dài nhất là 7 ngày; tuy nhiên cũng có trường hợp đầu thai xảy ra ngay lập tức sau khi vào thân trung ấm do các điều kiện duyên hợp tái sinh đầy đủ. Nếu nội trong 7 ngày mà thần thức chưa hội đủ duyên hợp để đi tái sinh thì thân trung ấm sẽ phải trải qua một cái chết nhỏ, từ đó thân trung ấm sẽ tái sinh trong một thân trung ấm mới khác. Nhưng sau 7 tuần, các duyên chắc chắn sẽ hợp đầy đủ và thần thức bắt buộc phải đi tái sinh.

Thân trung ấm thấy thân thể cũ ở kiếp trước của mình, nhưng vì đã cắt đứt mọi liên hệ với thân thể ấy nên không khởi nghĩ ‘Đó là thân của tôi’ và do đó cũng không phát khởi ý muốn nhập trở lại vào thân cũ của mình. Các thân trung ấm đồng thể loại đều nhìn thấy lẫn nhau và những người có mắt thánh cũng thấy được họ. Thân trung ấm phải tái sinh trong địa ngục sẽ có màu giống như khúc gỗ bị đốt cháy; ngạ quỷ giống như là nước; súc sinh giống như là khói; thân trung ấm tái sinh lên cảnh trời dục giới hoặc cõi người có màu vàng ròng; tái sinh lên cảnh trời sắc giới có màu trắng v.v…

Nếu các thân trung ấm phải tái sinh trong ba nẻo ác là súc sinh, ngạ quỷ hay địa ngục, sẽ thấy xuất hiện lá cờ đen trải căng ra, hoặc thấy màn đêm tràn ngập bóng tối; trong khi các thân trung ấm được tái sinh trong ba nẻo tốt là người, a tu la, hoặc cõi trời sẽ thấy xuất hiện lá cờ trắng trải căng ra, hoặc thấy màn đêm tràn ngập ánh trăng.

  1. Thân trung ấm đi tái sinh

Điều kiện cần để thân trung ấm có thể đi tái sinh bằng con đường thai sinh (tái sinh vào cõi người và các loài động vật sinh con) là phải có được ba thuận duyên và tránh ba nghịch duyên:

Ba thuận duyên là: người mẹ phải mạnh khỏe, không bệnh tật và không ở trong thời kỳ có kinh nguyệt; thân trung ấm phải đang ở gần đó và muốn nhập thai; người nam (cha) và người nữ (mẹ) phải có ý ham muốn lẫn nhau và giao hợp.

Ba nghịch duyên cần tránh là: dạ con người mẹ phải hoàn hảo, không bị bệnh hoạn, hư hỏng, nghĩa là dạ con không được nhỏ như hạt lúa mạch, như con kiến…, hơn nữa, cũng không được tắc nghẽn. Thứ hai, cả cha và mẹ không có hạt giống hư hỏng, nghĩa là tinh hay huyết bị nghẽn, không di chuyển xuống được, hoặc là một trong hai thứ xuống trước quá sớm, hoặc là cả hai thứ xuống đồng thời nhưng một trong hai thứ lại bị thui chột hư hỏng. Thứ ba, phải hoàn toàn không bị khuyết điểm là không tích tụ đủ duyên (nghiệp) để sinh làm con của hai người nam nữ đó, và cả hai nam nữ cũng không bị khuyết điểm là không tích tụ đủ duyên (nghiệp) để được làm cha mẹ của vị này.

Thân trung ấm hội đủ 6 điều kiện này sẽ thấy ảo cảnh cha và mẹ ăn nằm với nhau. Do ham muốn giao hợp, và nếu sẽ phải đầu thai làm thân nam thì thân trung ấm sẽ nổi lòng ham muốn người mẹ và muốn tách lìa người cha ra; còn nếu sẽ phải đầu thai làm thân nữ thì thân trung ấm sẽ nổi lòng ham muốn người cha và muốn tách lìa người mẹ ra. Rồi khi thân trung ấm bắt đầu ôm lấy người nó muốn, qua nghiệp lực của quá khứ, nó chẳng thấy gì của thân thể mà chỉ thấy bộ phận sinh dục của người đó, vì vậy mà nổi cơn sân hận. Chính lòng ham muốn và tâm sân hận này tác động làm nguyên nhân cái chết của thân trung ấm, và nó nhập vào thai trong dạ con người mẹ. Đó là khi kết thúc thân trung ấm và đón nhận một thân kiếp mới.

Như vậy khi có thể hiểu sơ lược và thiền quán về cái chết, thân trung ấm và quá trình tái sinh, chúng ta có thể chuẩn bị cho bản thân trên hành trình đi đến một kiếp sống mới. Đặc biệt, đối với các hành giả của Mật thừa thì họ nương cái chết để nhập vào đạo bằng Pháp thân, nương vào thân trung ấm để nhập vào đạo bằng Báo thân, nương tái sinh để vào đạo bằng Hóa thân. Nhờ thế, bằng cách gián tiếp, ba trạng thái – chết bình thường, trung ấm và tái sinh – được rửa sạch, thanh tịnh hóa, và hành giả thực chứng Tam thân Phật và hòa hợp với bản thể của ba thân.

 

(Tham khảo: Chết, vào thân trung ấm và tái sinh theo Phật giáo Tây Tạng, bởi Lati Rinpoche và Jeffrey Hopkins)

______________________________________________________________

[1] Chu kỳ thứ 4 trong 8 chu kỳ của sự chết. Tham khảo thêm: Chết, vào thân trung ấm và tái sinh, Lati Rinpoche (Tr.25)

[2] Chu kỳ thứ 8 của sự chết

Chia sẻ với chúng tôi

Suy nghĩ của bạn

0 Comments

Leave a reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

*

Log in with your credentials

or    

Forgot your details?

Create Account